26 Tháng Chín 2021 ..:: HÌNH SỰ ::.. Đăng Nhập
 Xem chi tiết
Quyền im lặng: Xuất phát từ sự sợ hãi của nghi can.
(Cập nhật: 18/11/2015 09:20:44)

Hoạt động điều tra (HĐĐT) về nguyên tắc phải luôn tuân theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp pháp của nghi can không bị xâm phạm, nhưng cũng phải đảm bảo cho HĐĐT được thuận lợi, nhanh chóng xác định tội phạm. Tuy nhiên, ngay cả khi loại trừ khả năng bức cung, nhục hình thì trong HĐĐT nội tại nó cũng đã phát sinh nguy cơ xảy ra oan, sai, mặc dù HĐĐT đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Sợ hãi -  nỗi ám ảnh của nghi can

Điều đó xuất phát từ chính sự khác nhau về địa vị tố tụng, sự bất tương quan giữa cơ quan điều tra (CQĐT), cán bộ điều tra với nghi can. Hay nói rõ hơn luôn có một sự sợ hãi ngấm ngầm to lớn của nghi can đối với người thực hiện công tác điều tra. Sự sợ hãy này là tự nhiên có của con người khi rơi hoàn cảnh bị khống chế, bị kiểm soát bởi quyền lực. Chính sự sợ hãi, bất cân bằng giữa nghi can và người làm công tác điều tra làm cho nghi can có xu hướng thừa nhận hoặc khai những lời khai theo xu hướng nhận định và xét hỏi của cán bộ điều tra.

Về phần mình, nghi can không thấy hết những xâu chuỗi, sự kiện mà người điều tra đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện. Khi đó, sự thật sẽ bị che dấu, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án ở các bước tiếp theo (bị can phản cung, tố cáo bị ép cung, mớm cung…). Sự sợ hãi có thể xuất phát từ việc sợ bị phạm tội nặng mà che dấu tội phạm, mặc dù hành vi của nghi can không quá nặng như nghi can lo lắng. Mặc khác, sự sợ hãi cũng xuất phát từ sợ bị kết tội, sợ bị bức cung, nhục hình, sợ bị phạt nặng mà khai báo theo những gì người điều tra mong muốn. Cả hai căn nguyên là điều có mẫu số chung là sự thật khách quan của vụ án sẽ bị che khuất.

Từ đó, để xác định sự thật, nhanh chóng giải quyết vụ án cần thiết phải triệt tiêu sự sợ hãi của nghi can đối với người điều tra. Để làm được điều này cần có sự giám sát của một thiết chế có thiên hướng bảo vệ, đứng về phía nghi can, ví như sự trợ giúp pháp lý của luật sư (LS). Không nói đến việc cố tình che dấu tội phạm của nghi can, thì khi có sự giám sát của LS thì nghi can như có thêm một sự tiếp sức, sự sợ hãi giảm đi và khi đó họ có lòng tin để phản bác hoặc thừa nhận những nội dung mà người điều tra viên đưa ra.

Cơ quan, người làm công tác điều tra trong khi chưa xác định được sự thật khách quan của vụ án thì họ cũng có quyền nghi ngờ mọi khả năng của vụ án và đưa vào nội dung điều tra. Nếu nghi can sợ hãi và thừa nhận thì khả năng oan sai là rất cao. Bởi lẽ, sự nghi ngờ của người điều tra thì có nhiều nhưng sự thật thì chỉ có một.

Trong HĐĐT nếu trọng cung hơn trọng chứng là chuyển việc xác định tội phạm về phía nghi can. Nếu nghi can thừa nhận tội phạm thì buộc nghi can vào thế tự buộc tội chính mình. Do đó, cần thiết phải áp dụng quyền im lặng… 

Quyn im lặng- hiểu thế nào cho đúng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Quyền im lặng là nghi can được không khai gì, để mặc CQĐT thực hiện, làm khó cho HĐĐT là chưa thoả đáng. Bởi lẽ, HĐĐT là xác định, chứng minh hành vi khách quan mà nghi can đó thực hiện. Hành vi khách quan đã xảy ra thì bằng mọi phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ CQĐT sẽ xác định được. Lời khai của nghi can chỉ góp phần cung cấp thông tin để CQĐT nhanh chóng tìm ra sự thật chứ lời khai của nghi can không tạo ra sự thật. Mặt khác, về mặt chủ quan nghi can cũng muốn cung cấp thông tin để minh oan hoặc được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho mình nên sẽ “mở miệng” nói với CQĐT chứ không thể không nói gì.

Quan điểm thứ hai: Thực hiện Quyền im lặng là nghi can chưa khai báo đến khi có luật sư (LS), các buổi làm việc giữa điều tra viên với nghi can phải có LS, các buổi làm việc có LS tham gia thì mới có giá trị pháp lý. Đây là cách hiểu phổ biến về Quyền im lặng. Khi có một sự bắt giữ thì người thi hành việc bắt hoặc lấy lời khai sẽ thông báo ngay cho nghi can về Quyền im lặng để nghi can biết về quyền khai báo hoặc chưa khai báo, quyền có LS, quyền được bảo vệ trước pháp luật. Nếu nghi can sử dụng Quyền im lặng hay nói cách khác quyền yêu cầu có LS thì sẽ giảm đi sự sợ hãi vốn có của nghi can đối với người điều tra mình.

Ý kiến cho rằng, khi sử dụng Quyền im lặng thì nghi can bị mất quyền tự bào chữa cho mình là chưa thoả đáng. Bởi quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa đã được quy định trong Bộ luật TTHS. Hiện nay dù đã được LS bào chữa thì bị can, bị cáo vẫn có quyền tự bào chữa. Do đó sự lo lắng này là không cần thiết.

Quyn im lặng có lợi cho hoạt động điều tra.

Im lặng khi chưa có LS hay im lặng trong suốt quá trình điều tra được quy định như một “quyền”. Tức là quy định này để có lợi tốt nhất cho nghi can. Vấn đề đặt ra khi đã quy định Quyền im lặng thì đây làquy định bắt buộc đối với HĐĐT hay không?  Khi đó, sẽ làm phát sinh chi phí, nhân lực từ phía nhà nước và lo lắng cả số lượng và chất lượng LS. Thực tế, có những nghi can có đủ năng lực, khả năng để làm việc với CQĐT nên họ không cần phải có LS. Mặt khác có nhiều vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản cần đảm bảo giữ bí mật không muốn người khác biết nên họ cũng không yêu cầu LS, mặc dù, nguyên tắc hành nghề LS là bảo mật. Do đó, quy định Quyền im lặng là bắt buộc cho mọi trường hợp là không cần thiết.

Nếu quy định Quyền im lặng là một quyền để nghi can được lựa chọn thì đảm bảo được ý chí của nghi can. Khi nghi can đã yêu cầu áp dụng Quyền im lặng thì CQĐT cần tôn trọng. Khi nghi can từ chối Quyền im lặng thì những lời khai của nghi can trước CQĐT sẽ được sử dụng làm căn cứ để buộc tội nghi can mà không thể thay đổi trừ khi có những chứng cứ khách quan khác bác bỏ hoàn toàn lời khai của nghi can. Trường hợp này, mặc dù được việc nghi can đã khai báo xong, sau đó phản cung, phủ định lời khai trước đó, tố cáo CQĐT bức cung, mớm cung, dụ cung… làm cho HĐĐT kéo dài, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.

Tóm lại, theo tôi “ Quyền im lặng” là không thể trì hoãn. Kể cả quy định cho phép nghi can im lặng trong suốt quá trình điều tra và cả việc nghi can có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu cho họ hưởng Quyền im lặng. Tuy nhiên, cần có một quy trình, thủ tục chặt chẽ về việc từ chối Quyền im lặng của nghi can để tránh những tiêu cực xảy ra.

Ls Nguyễn Tấn Thi

Nguồn: Lao Động


Tin - Bài khác
'Cháu của ông chú Viettel' bị bắt
Nghiện ma túy, giết người yêu phi tang ngoài nghĩa địa
Nguyên tắc Suy đoán vô tội (P3)
Nguyên tắc Suy đoán vô tội (P1)
Nguyên tắc Suy đoán vô tội (P2)
Chưa tử hình Hồ Duy Hải (Long An), Nguyễn Văn Chưởng (Hải Phòng)
Đơn đề nghị giám đốc thẩm, kêu oan cho tử tù Hồ Duy Hải
Bắt 2 kẻ trộm tài sản của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch
Từ vụ án Hồ Duy Hải: những thách thức của nền tố tụng hiện nay
Kẻ trộm chó làm chết 3 người lĩnh án tử hình
Thiếu tướng Phan Anh Minh: Đánh mạnh vào tội phạm có tổ chức
Tường thuật vụ Huyền Như chiếm đoạt 719 tỷ đồng của ACB: Lỗi thuộc về ai?
Huyền Như vừa tham ô vừa lừa đảo?
Chuyện lạ trong tố tụng hình sự: Gian truân tìm địa vị pháp lý của Huỳnh Văn Nén... thông qua báo chí!
SV kiện lớp trưởng, cô giáo và hiệu trưởng
Chậm đóng án phí vì tòa tắc trách nên khó xóa án tích
Luật sư, bị cáo có quyền thu thập chứng cứ?
Không nên giáo dục bị cáo như kiểu... đã có tội!
Bình đẳng trong tranh tụng: Chuyện bắt buộc!
Tăng quyền luật sư để nâng chất tranh tụng
Một số vấn đề về sử dụng chứng cứ trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Kết quả giám định chưa rõ, khó xử lý
Bàn về thẩm quyền giải quyết, xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người nước ngoài
Tranh tụng mới có phiên tòa đúng nghĩa
Trang 7 trong 7Đầu tiên    Trước   2  3  4  5  6  [7]  Tiếp   Cuối    
ĐỐI TÁC TP.HCM
ĐỐI TÁC BÌNH DƯƠNG
ĐỐI TÁC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
ĐỐI TÁC VĨNH LONG
ĐỐI TÁC ĐỒNG THÁP
LIÊN KẾT WEBSITE
NGƯỜI DÙNG TRỰC TUYẾN
People Online Thành viên online:
Visitors Khách: 23
Members Thành viên: 0
Total Users Tổng cộng: 23

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3,914,858