24 Tháng Chín 2021 ..:: DÂN SỰ » Tư vấn luật hợp đồng ::.. Đăng Nhập
 Xem chi tiết
10 vấn đề trọng tâm lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
(Cập nhật: 04/01/2015 22:16:28)
Văn phòng luật sư Hoa Sen xin giới thiệu
 
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành, từ ngày 5-1 sẽ tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Theo đó, có 10 vẩn đề trọng tâm cần lấy ý kiến
 
Dowlooad toàn văn quyết định từ dropbox của Văn phòng luật sư Hoa Sen:
https://www.dropbox.com/s/etpuw3gm4qatvyo/456.pdf?dl=0 
 
1.   Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự:
 
Bộ luật dân sự hiện hành quy định nguyên tắc tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ (Điều 9) nhưng chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong việc thụ lý giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có quy định của pháp luật về vụ, việc dân sự đó.
 
 Dự thảo bổ sung Điều 19, theo đó, Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, Tòa án căn cứ vào tập quán (Điều 11), nguyên tắc áp dụng pháp luật tương tự, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng (Điều 12) để xem xét, giải quyết.
 
2.   Về quyền nhân thân
 
Bộ luật dân sự hiện hành quy định 26 quyền nhân thân (từ Điều 26 đến Điều 51)
 
Dự thảo Bộ luật tiếp tục quy định các quyền nhân thân cụ thể (từ điều 31 đến điều 50), sửa đổi một số điều cho phù hợp với Hiến Pháp như quyền được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân (thay cho quyền bí mật đời tư)…, đồng thời bổ sung một số quyền mới như quyền lập hội, quyền tiếp cận thông tin, quyền sống… Ngoài ra, Điều 51 dự thảo quy định, các quyền nhân thân khác về dân sự đều được công nhận, tôn trọng bảo vệ và bảo đàm theo Hiến pháp và pháp luật.
 
3.   Về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
 
BLDS hiện hành quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
 
Dự thảo Bộ luật chỉ quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân đồng thời có một số quy định riêng về việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân; một số quy định riêng về việc tham gia quan hệ dân sự của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương.
 
4.   Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức
 
Điều 134 BLDS hiện hành quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
 
Khoản 1 – Điều 145 dự thảo Bộ luật quy định: “Trường hợp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà hình thức đó không được tuân thủ thì giao dịch dân sự đó bị vô hiệu, trừ các trường hợp sau đây:
 
a.   Việc không tuân thủ quy định về hình thức không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác và chủ thể giao dịch dân sự đã chuyển giao tài sản hoặc đã thực hiện công việc. Trong trường hợp này, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm hoàn tất thủ tục đối với giao dịch dân sự đó;
 
b.   Trường hợp chủ thể chưa chuyển giao tài sản hoặc chưa thực hiện công việc thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án cho phép thực hiện quy định về hình thực của giao dịch dân sự trong một thời gian hợp lý; quá thời hạn đó mà không thực hiện thi giao dịch dân sự đó vô hiệu”.
 
5.   Về bảo vệ người thứ ban ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu
 
Điều 138 BLDS hiện hành quy định trường hợp giao dịch dân sự bị Tòa án tuyên bố vô hiệu nhưng tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu và chủ sở hữu được nhận lại tài sản của mình, trừ hai trường hợp: (1) Người thừ ba nhận được tài sản thông qua bán đấu giá; (2) Người thứ ba giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tàu sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
 
Điều 148 dự thảo quy định: “2. Trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết tài sản là đồi tượng của giao dịch đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp hoặc ngoài ý chí của chủ sở hữu; 3. Trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thừ ba thì giao dịch này bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ban gay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.
 
6.   Về hình thức sở hữu
 
BLDS hiện hành quy định 6 hình thức sở hữu: Sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức CT - XH; sở hữu của tổ chức CTXH – nghề nghiệp, sở hữu của tổ chức XH, tổ chức XH – nghề nghiệp.
 
Dự thảo quy định ba hình thức sở hữu, bao gồm sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung.
 
7.   Về thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác
 
Điều 168 BLDS hiện hành quy định “Việc chuyền quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
 
Điều 182 dự thảo:
 
“1. Việc xác lập quyền sơ hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, nếu hợp đồng hoặc luật không có quy định khác.
 
Trường hợp hợp đồng và luật cùng quy định nhưng khác nhau về thời điểm xác lập quyền sở hửu, vật quyền khác thì áp dụng theo quy định của pháp luật.
 
Thời điểm tài sản được chuyển giao được hiểu là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản.
 
2. Trường hợp tài sản đã được chuyển giao trước thời điểm hợp đồng được giao kết thì quyền sở hữu và vật quyền khác được xác lập kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác.
 
3. Trường hợp luật quy định việc chuyển giao vật phảo được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì thời điểm xác lập quyền sở hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”.
 
8. Về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
 
BLDS hiện hành không quy định tòa án có quyền điều chỉnh hợp đồng của các bên khi hoàn cảnh thay đổi. Điều này thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối của Nhà nước đối với quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng.
 
Điều 433 dự thảo về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi quy định trường hợp hoàn cảnh thay đổi dẫn đến quyền, lợi ích của một trong các bên bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng; trường hợp các bên không đat được thỏa thuận trong một khoảng thời gian hợp lý thì Tòa án có thể: a. Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều khoản do Tòa án quyết định; b. Điều chỉnh hợp đồng để phân chia cho các bên các thiệt hại và lợi ích phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh một cách công bằng và bình đẳng. Tùy theo từng trường hợp, Tòa án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại.
 
9.   Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
 
Điều 476 BLDS hiện hành quy định, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lại suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
 
Điều 491 dự thảo quy định, lãi suất vay do các bên thỏa thuận hoặc do luật định. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 200% của lãi suất cở bản do NHNN công bố đối với loại vay tương ứng, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định ở khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
 
10. Về thời hiệu
 
Điều 155 BLDS hiện hành quy định các loại thời hiệu sau: Thời hiệu khởi kiện và hto72i hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (gọi chung là thời hiệu khỏi kiện); thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiện miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Trong đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện hoặc mất quyền yêu cầu.
 
Dự thảo quy định chung về thời hiệu và thời hiệu thừa kế theo hướng: cá nhân, pháp nhân phải yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự trong thời hạn luật định; hết thời hạn đó mà cá nhân, pháp nhân mới có yêu cầu thì thay vì từ chối giải quyết yêu cầu như quy định hiện hành, Tòa án vẫn phải thụ lý, giải quyết và tuyên bố chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự.
 
Nguồn: Pháp luật Tp.HCM

Nguồn: Pháp luật Tp.HCM


Tin - Bài khác
Kế hoạch lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)
Về yếu tố ưng thuận của hợp đồng (phần 1)
Về yếu tố ưng thuận của hợp đồng (phần 2)
Trang 1 trong 1Đầu tiên    Trước   [1]  Tiếp   Cuối    
ĐỐI TÁC TP.HCM
ĐỐI TÁC BÌNH DƯƠNG
ĐỐI TÁC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
ĐỐI TÁC VĨNH LONG
ĐỐI TÁC ĐỒNG THÁP
LIÊN KẾT WEBSITE
NGƯỜI DÙNG TRỰC TUYẾN
People Online Thành viên online:
Visitors Khách: 4
Members Thành viên: 0
Total Users Tổng cộng: 4

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3,913,360